DANH MỤC SÁCH
000 - Kiến thức tổng quát100 - Triết học – Tâm lý học200 - Tôn giáo và Kitô giáo300 - Xã hội học400 - Ngôn ngữ500 - Khoa học tự nhiên600 - Khoa học ứng dụng700 - Nghệ thuật800 - Văn học900 - Địa lý, lịch sử

Lượt xem: 213

Phê Phán Năng Lực Phán Đoán

Tác giả: Immanuel Kant

Dịch giả: Bùi Văn Nam Sơn

Nhà xuất bản: Tri thức

Nơi xuất bản: TP. HCM

Năm xuất bản: 2007

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Mã sách: B250991

Danh mục: 140 - Các trường phái và triết học chuyên biệt

Khổ sách: A5

Số trang: 650

Dung lượng: 11 Mb

Thư mục

Immanuel Kant. Phê Phán Năng Lực Phán Đoán. Dg. Bùi Văn Nam Sơn. TP. HCM: Tri thức, 2007.

Đăng nhập để đọc sách này.

Phê phán năng lực phán đoán là quyển Phê phán thứ ba và, như Kant nói trong Lời Tựa của lần xuất bản thứ nhất, “với công trình này, tôi đã hoàn tất được toàn bộ công cuộc Phê phán của mình” (tr. BX). Hai quyển trước là Phê phán lý tính thuần túy (1781, 1787) nhằm trả lời câu hỏi: “Tôi có thể biết gì?” và Phê phán lý tính thực hành (1788) trả lời câu hỏi: “Tôi phải làm gì?”[3]. Câu hỏi thứ ba “Tôi có thể hy vọng gì?” được Kant dành cho các bài viết và công trình nghiên cứu tương đối ngắn về triết học lịch sử và triết học tôn giáo[4]. Quyển Phê phán năng lực phán đoán này là cầu nối cho cả ba câu hỏi trên, và, như ta sẽ đề cập ở các phần sau, hầu như tiếp cận và tìm cách trả lời cho câu hỏi thứ tư, bao trùm cả ba câu hỏi trên do chính Kant đặt ra: “Con người là gì?”[5] bằng cách gợi lên vấn đề mới: tôi có thể cảm nhận và suy tưởng như thế nào về bản thân mình và về thế giới chung quanh?

PPNLPĐ có ba ấn bản: lần thứ nhất năm 1790 (gọi là bản A) in vội vã nên có nhiều sai sót, nhất là nhiều lỗi chính tả khiến Kant rất bực mình (“Không có quyển nào trong các quyển Phê phán của Kant được in một cách thảm hại như lần xuất bản thứ nhất này”[6]). Lần xuất bản thứ ba năm 1799 (bản C) được in cẩn trọng hơn nhiều, nhưng lại “không có dấu hiệu nào cho thấy Kant có tham gia vào quá trình sửa chữa và in ấn”[7], do đó, ấn bản lần thứ hai năm 1793 (gọi là bản B) là bản được đích thân Kant sửa chữa, bổ sung và xác định là bản chính thức (“autorisiert”)[8]. Giới nghiên cứu về Kant đều thường dùng bản B này làm căn cứ để trích dẫn hay phiên dịch, vì thế bản dịch này cũng dựa trên bản B (NXB Felix Meiner, Hamburg 2001) nói trên theo thông lệ. Số trang trên lề trái mỗi trang gồm: số trang của nguyên bản B (vd: B100 = trang 100 trong bản B) và số trang trong ngoặc vuông [  ] là từ Tập hợp tác phẩm Kant của Ấn bản Viện Hàn Lâm khoa học Phổ, tập V (gọi tắt là ấn bản Hàn Lâm/Akademie- Ausgabe hay AA). Cả hai cách đánh số trang đều có giá trị như nhau trong việc trích dẫn tác phẩm này theo thói quen của giới nghiên cứu.

Ngoài Lời Tựa và Lời dẫn nhập khá dài và quan trọng ở đầu sách, Kant còn viết một Lời dẫn nhập lần thứ nhất (Erste Einleitung) rất dài, nhưng ông bỏ, không dùng. Trong “bản sao” nguyên tác của J. C. Kiesewetter – người phụ trách in ấn bản lần thứ nhất – đã bị thất lạc, người ta chỉ còn tìm lại được Lời dẫn nhập này và đã công bố (NXB Felix Meiner, Hamburg, 1990, 86 trang). Bản dịch này của chúng tôi chưa bao gồm Lời dẫn nhập lần thứ nhất này và hy vọng sẽ có dịp bổ sung trong lần tái bản sau, nếu bản dịch này có được may mắn đó.

Cũng như khi dịch hai quyển Phê phán còn lại, chúng tôi cố gắng theo sát nguyên bản, nhưng ở nhiều chỗ cũng buộc lòng phải chấm câu lại (dấu |), vì văn Kant vốn nặng nề, phức tạp thì trong quyển này, càng “dây cà dây muống” với không ít câu dài hơn 20 dòng![9]. Kant lại có “tật” hay lặp đi lặp lại (có lẽ vì ông là “triết gia-nhà giáo” nên thường e học trò quên bài!), nhưng tới khi ta bắt đầu thấy hơi ngán ngẩm thì ông đột ngột nêu thêm một ý mới, mở ra một bình diện hay một viễn tượng khác như muốn thử thách lòng kiên nhẫn và sự tĩnh tâm của người đọc. Vì thế, để phần nào đáp ứng nhu cầu “nhanh gọn” của đông đảo người đọc ngày nay, phần Chú giải dẫn nhập của người dịch ở cuối mỗi tiết lớn hay mỗi chương cố gắng tóm tắt đại ý, giải thích các chỗ khó hiểu và sắp xếp lại các bước lập luận của Kant để bạn đọc dễ theo dõi. (Riêng đối với Lời Tựa và Lời dẫn nhập, chúng tôi cố tóm tắt ý chính trong mấy lời giới thiệu này nên sẽ không có phần chú giải riêng, để khỏi quá rườm). Tuy nhiên, đọc Chú giải dẫn nhập không thay thế được cho việc tìm hiểu bản thân văn bản, cũng như cầm tấm bản đồ sơ sài trong tay khác xa với việc tự mình nhẩn nha ngắm nhìn và thưởng thức phong cảnh trong một “trò chơi tự do và lâu bền” như Kant nói (B73)!

Với bản dịch này, bắt chước cách nói của Kant, chúng tôi cũng đã “hoàn tất” công việc dịch và chú giải ba quyển Phê phán của ông! Nhưng, vẫn còn “nợ” ông rất nhiều, ít ra là các tác phẩm về triết học lịch sử và triết học tôn giáo nói trên đây; đó là chưa kể đến phần Học thuyết (Doktrin) đồ sộ – đến sau phần Phê phán – (Các cơ sở đầu tiên của Siêu hình học về khoa học tự nhiên và Siêu hình học về đức lý gồm học thuyết về pháp quyền và học thuyết về đức hạnh) v.v... “Gánh nặng, đường xa, trời chiều, bạn ít”, không biết có còn đủ sức để theo đuổi ông đến đâu!
Dẫn Nhập (Einleitung)
I. Về Năng lực Phán đoán như là một Nguyên tắc A Priori (Tiên thiên)
II. Về Miền của Triết học nói chung
III. Về Phê phán Năng lực Phán đoán như là một phương tiện kết nối hai phần của Triết học
IV. Về Năng lực Phán đoán như là một Năng lực Đặt Luật A Priori
V. Về Nguyên tắc Phản tư của Năng lực Phán đoán
VI. Về sự kết hợp Ý niệm Tự do với Ý niệm Tự nhiên
VII. Về Cái Cao cả trong sự trình bày chung các Mục đích Lý trí
VIII. Về Mục đích luận của Năng lực Phán đoán
I. PHÊ PHÁN NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN THẨM MỸ (Critique of Aesthetic Judgement)
Phần I: PHÂN TÍCH VỀ CÁI ĐẸP
Quyển I: Khoảnh khắc thứ nhất của Phán đoán Vị giác: Phẩm tính (Quality)
§1. Phán đoán vị giác là Thẩm mỹ
§2. Phán đoán vị giác là không lợi ích
§3. Sự hài lòng liên quan đến cái đẹp là không liên quan đến ý niệm về sự hoàn hảo
§4. Sự hài lòng là không liên quan đến sự dễ chịu và cái thiện
Quyển II: Khoảnh khắc thứ hai: Số lượng (Quantity)
§6. Cái đẹp là không có ý niệm (concept)
§8. Cái đẹp là không có quy luật
§9. Sự hài lòng là phổ quát (universal)
§14. Về Thẩm mỹ Học (Aesthetic Culture)
Quyển III: Khoảnh khắc thứ ba: Quan hệ (Relation)
§15. Phán đoán vị giác là không mục đích (purposiveness without a purpose)
§16. Về sự khác biệt giữa Cái đẹp tự do và Cái đẹp phụ thuộc
Quyển IV: Khoảnh khắc thứ tư: Phương thức (Modality)
§18. Cái đẹp là tất yếu (necessary)
§20. Về sự khác biệt giữa sự tất yếu chủ quan và tất yếu khách quan
Phần II: PHÂN TÍCH VỀ CÁI CAO CẢ
§23. Cái Cao cả (The Sublime)
§24. Phân tích về Cái Cao cả Toán học (Mathematically Sublime)
§25. Phân tích về Cái Cao cả Động lực học (Dynamically Sublime)
II. PHÊ PHÁN NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN MỤC ĐÍCH LUẬN (Critique of Teleological Judgement)
Phần I: PHÂN TÍCH VỀ MỤC ĐÍCH LUẬN KHÁCH QUAN
§62. Về Mục đích khách quan và Mục đích chủ quan
§63. Về Hình thức Mục đích và Mục đích Nội tại (Inner Purpose)
Phần II: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN MỤC ĐÍCH LUẬN
§79. Về sự khác biệt giữa Mục đích và Cơ chế
§80. Về Mục đích Nội tại của các vật thể tự nhiên
§81. Về Mục đích Tối hậu (The Ultimate End)
§82. Về Mục đích Luận và Thần học
§83. Về sự Mâu thuẫn giữa Cơ chế và Mục đích
§84. Về Lý tưởng của Lý trí Thuần túy
Kết Luận
Về sự tương đồng giữa Phê phán Thẩm mỹ và Phê phán Mục đích luận
Mối liên hệ giữa Năng lực Phán đoán và Hệ thống Triết học

Bình luận